“Văn hóa nhận lỗi” của các bậc quân vương thời xưa

Con người ai cũng có thể mắc sai lầm, thế nên đáng quý không phải ở chỗ chưa từng làm sai mà là ở chỗ sai rồi có thể sửa. Đối với bậc quân vương cai trị một nước, gánh lấy trọng trách chăm lo cho muôn dân, việc tự trách và không ngừng tu sửa chính mình là điều cực kỳ quan trọng. Đó là điểm trọng yếu để thiên hạ thái bình, đời sống nhân dân no ấm, và vương triều được ổn định lâu dài.

Đối với bậc quân vương cai trị một nước, gánh lấy trọng trách chăm lo cho muôn dân, việc tự trách và không ngừng tu sửa chính mình là điều cực kỳ quan trọng. (Ảnh minh họa qua Zing)

Hoàng đế hạ “Tội Kỷ Chiếu”

“Tội Kỷ Chiếu” (Chiếu tự trách mình) là một loại khẩu dụ hoặc văn bản mà các hoàng đế thời xưa ban hành, thường là để tự trách hoặc kiểm điểm sai sót, sai lầm của bản thân. Các hoàng đế quy hết thành tích đạt được cho muôn dân, những sai sót mắc phải thì quy về bản thân, chính là công khai nhận lỗi với thiên hạ, muôn dân và lập tức sửa đổi.

Vào thời Đường Thái Tông, Đại tướng Đảng Nhân Hoằng bị tố cáo vì tội tham ô, theo pháp luật Đại Lý Tự ban lệnh tử hình. Đường Thái Tông thấy y là một nhân tài hiếm có, không nỡ giết y, nên hủy bỏ phán quyết của bộ hình, sửa thành lưu đày tại biên cương. Sau đó, Đường Thái Tông trong lòng rất bất an, thấy rằng mình đã dùng tình mà xử lý công việc, không coi trọng pháp luật quốc gia, thực rất không nên làm vậy. Cho nên ông triệu các đại thần đến cung vàng điện ngọc, lòng nặng trĩu tự kiểm điểm với các đại thần rằng: “Luật pháp quốc gia, là vua nên đi đầu chấp hành, không được mang tư niệm, không chịu ước chế của pháp luật, thất tín với dân. Ta che trở cho Đảng Nhân Hoằng, quả thực là lấy tư tâm mà làm loạn quốc pháp”. 

Đường Thái Tông là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Trung Quốc. (Ảnh qua baomoi)

Thế là, Đường Thái Tông viết một bức “Tội Kỷ Chiếu”, kiểm điểm bản thân “Về việc xử lý chuyện Đảng Nhân Hoằng, ta đã mắc phải ba sai sót lớn: Một là không biết nhìn người, tin dùng nhầm Đảng Nhân Hoằng; hai là lấy tư tâm làm loạn pháp, bao che cho Đảng Nhân Hoằng; ba là thưởng phạt bất minh, xử lý không công bằng.” Sau khi Đường Thái Tông tuyên đọc cho các đại thần, liền hạ lệnh công bố cho thần dân cả nước “Tội Kỷ Chiếu” của ông.

Vào thời Võ Tắc Thiên, tại Thiên Đảng, Minh Đảng xảy ra hỏa hoạn lớn. Võ Tắc Thiên đã áp dụng ba phương pháp: Một là “Cáo Thái Miếu”. Đến Thái Miếu tế tổ tông, tự kiểm điểm với tổ tông, báo cáo sự việc đã xảy ra. Hai là “Thủ chiếu Trách Cung” (Tự viết chiếu trách bản thân). Võ Tắc Thiên tự mình viết cuốn “Tội Kỷ Chiếu”, trách móc bản thân, thể hiện rằng hỏa hoạn là do sai lầm của bản thân gây ra. Thứ ba là yêu cầu văn võ bá quan trong ngoài triều từ chức cửu phẩm trở lên dâng sớ lên hoàng thượng, dâng lời can gián hoặc nêu ra kiến nghị.

Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên. (Ảnh qua theepochtimes)

Những năm cuối thời Hán Vũ Đế, do chiến tranh liên miên, sa hoa lãng phí, ngao du thưởng ngoạn vô độ, xây thành đắp lũy, kích động mâu thuẫn trong xã hội, nguy hiểm xảy ra khắp nơi, quốc gia nguy nan ngàn cân treo sợi tóc. Hán Vũ Đế tỉnh ngộ và phản tỉnh bản thân, khẩu dụ cho các quần thần, truy xét lại những sai sót của bản thân, và lập tức sửa đổi, điều chỉnh lại chính sách theo kiến nghị của các vị đại thần. Lại công khai ban hành cuốn “Luân Đài Tội Kỷ Chiếu”, thừa nhận sai sót trong chính sách của mình, tuyên bố những sai lầm trước kia đều do lỗi bản thân vua và vô cùng hối hận vì những việc làm của mình trước kia. Từ đó, mâu thuẫn xã hội được hòa hoãn, cứu vớt được cục diện nguy nan lúc đó, giúp triều Hán tránh khỏi vận mệnh quốc gia bị diệt vong.

Lịch sử Trung Quốc có câu “Tần Hoàng Hán Vũ”, thành tựu công nghiệp của Hán Vũ Đế quả thật có thể so sánh được với Tần Thủy Hoàng. Tuy nhiên theo sử gia Tư Mã Quang, Hán Vũ Đế “có sai lầm vong quốc như Tần nhưng lại tránh được cái họa vong quốc như Tần”, là bởi vì khác với Tần Thủy Hoàng đến chết không nhận sai lầm, Hán Vũ Đế, đã kịp thời phản tỉnh nhận sai, đồng thời sửa chữa những lỗi lầm trước, từ đó tránh được vận mệnh nhanh chóng bại vong như triều Tần.

Hán Vũ Đế là vị hoàng đế có thể sáng ngang với Tần Thủy Hoàng. (Ảnh qua viettri.net)

“Tội Kỷ Chiếu” đã trở thành truyền thống cho các bậc minh quân nhân đức, đóng góp quan trọng vào tư tưởng lấy Đức trị quốc của cổ nhân.

Các vua Đại Việt cũng thường xuyên tự kiểm điểm bản thân

Không chỉ các hoàng đế Trung Quốc, mà Việt Nam với hơn 4000 năm lịch sử cũng đã xuất hiện không ít các bậc Thánh chúa, minh quân. Các vị đều thường xuyên công khai nhận lỗi với quần thần và nhân dân, nghiêm khắc xét lại bản thân, không vì địa vị ở trên vạn người mà kiêu ngạo hống hách.

Trong “Gương Sáng trời Nam” của tác giả Lê Thái Dũng có trích dẫn từ “Đại Việt sử ký toàn thư” những lần các vị vua trong lịch sử nhận lỗi và tự trách mình, ở đây xin dẫn ra một số như sau:

Tháng 12 năm Đinh Mùi (1127) Lý Nhân Tông thấy mình không khỏe nên ban chiếu dặn dò quần thần rằng khi vua mất chỉ làm lễ tang đơn giản, kiệm ước. Trong chiếu có đoạn:

“…. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi lại khiến cho thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, làm cho lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào?” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Không chỉ Trung Quốc, mà Việt Nam cũng có rất nhiều Thánh đế, minh quân. (Ảnh qua vnexpress)

Ngày 27 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1438) vì có nhiều thiên tai, vua Lê Thái Tông đã xuống chiếu tự trách tội. Bài chiếu viết:

“Mấy năm nay hạn hán, sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện. Khoảng tháng 4, tháng 5 năm nay, nhiều lần sét đánh vào vườn cây trước cửa Thái miếu ở Lam Kinh. Cứ nghiệm xét việc xảy ra tai họa, nhất định là có duyên do trong đó. Có phải do trẫm không lo sửa đức để mọi việc bê trễ hay là do quản tể phụ bất tài xếp đặt không điều hòa? Hay là dùng người không đúng, để người tốt kẻ xấu lẫn lộn? Hay là hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái? Hay là làm nhiều công trình thổ mộc để sức dân mỏi mệt? Hay là thuế khóa nặng nề mà dân túng thiếu? Trẫm tự trách tội mình, đại xá cho thiên hạ. Tất cả các đại thần, các quan văn võ các ngươi nên chỉ ra những lầm lỗi kể trên, cứ thẳng thắn nói hết, đừng kiêng nể gì. Nếu có điều gì tiếp thu được, nhất định sẽ khen thưởng cất nhắc, dẫu có ngu dần vu khoát, cũng không bắt tội. Ngõ hầu có thể lay chuyển lòng trời, chấm dứt được tai biến, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng vậy”. (Đại Việt sử ký toàn thư)

Tháng 4 năm Kỷ Tị (1449) Lê Nhân Tông xuống chiếu tự trách mình. Tờ chiếu viết:

“Trẫm gặp phải gia biến, bên trong thì mẫu hậu coi chầu, bên ngoài thì đại thần giúp việc, mà liền năm đại hạn, lúa má mất mùa, dân chúng buồn than. Nghĩ kỹ tội ấy, hẳn có nguyên do. Có phải trẫm không biết dốc niềm thành kính để được hưởng lòng trời, không biết lo tròn đạo hiếu để thờ phụng tông miếu, không ban ân huệ cho khắp muôn dân nên đến nỗi thế chăng? Có phải trẫm không biết sử dụng nhân tài, những kẻ được dùng đều là loại hèn kém mà đến nỗi thế chăng? Có phải do nạn hối lộ công khai, tệ phi tần lộng hành mà đến nỗi thế chăng? Hay là do trẫm không dè dặt tiêu dùng, thường lạm tiêu bừa, để hại của dân mà đến nỗi thế chăng? Hay là các đại thần giúp việc chưa trọn đạo điều hòa âm dương mà đến nỗi thế chăng? Hay là các tướng soái phiên thần không biết yêu thương quân dân, quen thói đục khoét mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì các thú lệnh không biết vỗ nuôi nhân dân, chỉ lo bòn vét mà đến nỗi thế chăng? Hay là quan coi hình ngục không giữ công bằng, chỉ lo xử nặng, kẻ nào đút lót thì tha, để oán khí bốc lên mà đến nỗi thế chăng? Có phải các quan thừa hành chỉ chuộng hư văn, để ân trạch của vua bị tắc lại ở trên, tình của kẻ dưới không thấu lên trên được mà đến nỗi thế chăng? Hay là các nhà quyền quý cậy thế ra oai để dân mọn bị hại mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì chọn lựa người hiền, cất nhắc người sót chưa được thi hành, để thói cầu cạnh chạy chọt ngày một tệ hại mà đến nỗi thế chăng? Hay là do chủ tướng, đảo lộn quân công, láy không làm có, làm hại đạo công mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì chưa thi hành đầy đủ nhân chính, để dân chúng vẫn còn nhiều người thất nghiệp mà đến nỗi thế chăng? Hay là do đầm cá hoang khô, ngạch thuế chưa giảm dân phải nộp nhiều mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì con cháu các bậc công thần cố cựu chưa được bổ dùng hết để đền đáp công lao họ mà đến nỗi thế chăng? Tất cả tội lỗi trên chồng chất lại, đã làm tổn thương hòa khí, nếu không xét lời dạy sửa lỗi lầm, làm tròn đạo tu dưỡng mình thì làm sao trên có thể lay chuyển được lòng trời, dưới có thể cứu vớt được nạn dân?” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Sử sách chép rằng sau khi tờ chiếu ban xuống, đêm hôm ấy có mưa.

Vua Lê Thánh Tông. (Ảnh qua ĐKN)

Tháng 1 năm Đinh Hợi (1467) vua Lê Thánh Tông ban chiếu đại xá thiên hạ, chiếu viết:

“Trẫm là kẻ không có đức, làm chủ muôn dân. Muốn cho mọi người đều giàu đủ, yên vui để tiến tới thịnh trị. Năm ngoái, từ màu thu đến mùa đông, trời mãi không mưa, người mất hy vọng được mùa, dân lo khó khăn đói kém. Trẫm là cha mẹ dân, chỉ biết đau xót trong lòng. Nếu không ban ơn rộng khoan tha thì sao thấy huệ thực tới dân được?” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Tháng 8 năm Tân Hợi (1491) trời mưa nhiều ngày gây ngập úng nặng, Lê Thánh Tông sai quan các địa phương chỉ huy việc khơi thông nước để cứu lúa mạ. Vua còn họp bàn với triều thần và nói với họ rằng: “Vì chính trị thiếu sót nên trời làm tai biến, đó là lỗi của trẫm mà thành ra thế, chứ nhân dân có tội gì đâu. Có phải vì trẫm đức tín chưa khắp đến dân, lòng thành chưa thấu đến trời mà đến thế chăng?” sau đó ông cảnh cáo những việc làm không đúng phận sự, chức trách của các quan rằng: “Từ này về sau, kẻ nào còn quen thói nhơ bẩn như cũ, theo người ta mà tiến lui, mưu giữ bền quyền vị thì trẫm vì các khanh mà giết đi; hoặc kẻ nào theo lời dạy bảo mà bỏ lỗi đi trước, dốc lòng trung tín, hết sức hết trí, trẫm cũng vì các khanh mà hậu thưởng. Các khanh nên cố gắng đấy”. (Đại Việt sử ký toàn thư)

Người cầm quyền thời nay cần học hỏi

Người xưa thường có quan niệm vua quan là cha mẹ của dân, ngày nay thường bị lý giải theo nghĩa phản diện rằng “cha mẹ dân” là có quyền tùy ý áp đặt, đè đầu cưỡi cổ dân. Thật ra theo cả quan niệm truyền thống lẫn hiện đại, làm gì có cha mẹ nào đè đầu cưỡi cổ con của mình? Cha mẹ chính là có trách nhiệm cần giáo dục và chăm lo cho con nhỏ, đến từng miếng ăn giấc ngủ.

“Cha mẹ của dân” mà người xưa dạy cũng có ý như vậy, người cầm quyền cần phải đặt lợi ích của trăm họ lên hàng đầu, chỉ gắng hết sức mong cho dân được ấm no, an cư lạc nghiệp, cùng hưởng thái bình, giống như cha mẹ ngày đêm trăn trở làm sao để con của mình được hưởng những điều tốt đẹp nhất.

Người cầm quyền cần phải đặt lợi ích của trăm họ lên hàng đầu, chỉ gắng hết sức mong cho dân được ấm no, an cư lạc nghiệp, cùng hưởng thái bình. (Ảnh qua ĐKN)

Sở dĩ người ta cho rằng “cha mẹ của dân” là đè đầu cưỡi cổ dân, cũng bởi vì ngày nay các giá trị tốt đẹp trong truyền thống hầu như đều đã bị xem nhẹ, thậm chí là đạp đổ. Đã xuất hiện những người làm quan chỉ còn biết đến “cả họ được nhờ”, ra sức vơ vét về phần mình, sau đó thì tìm đường “hạ cánh”, không còn biết nghiêm khắc yêu cầu bản thân bằng những tiêu chuẩn cao thượng, không lo nghĩ cho nhân dân, cũng chưa hề biết tự trách mình. Tuy rằng quan trường cũng có những thứ như “bản kiểm điểm”, nhưng chỉ là hình thức hời hợt, ngay cả văn bản cũng được người khác đánh máy sẵn, chỉ việc ký tên vào là xem như đã “nhận lỗi” hoặc “rút kinh nghiệm”, thật sự khác xa một trời một vực so với “Tội Kỷ Chiếu” của các hoàng đế xưa.

Bánh xe lịch sử xoay chuyển liên tục, văn hóa 4000 năm của Việt Nam hay văn hóa 5000 năm của Trung Quốc đều chỉ ra một điều, đó là khi vua quan sa đọa, triều đình hủ bại, thì thiên tai nhân họa nổi lên khắp nơi, lòng người hỗn loạn, nhân dân mất hết niềm tin vào người cầm quyền, thậm chí xuất hiện cả các cuộc khởi nghĩa. Người cầm quyền nếu nhận ra nguy cơ ấy, kịp thời phản tỉnh, thật lòng hối cải, noi gương các bậc minh quân trong lịch sử mà nhận sai và ra sức sửa đổi lỗi lầm, không chỉ trên miệng mà còn phải bằng hành động thật sự, thì mới có hy vọng vãn hồi tình thế. Cũng như Hán Vũ Đế năm xưa, “có sai lầm vong quốc như Tần Thủy Hoàng nhưng lại tránh được cái họa vong quốc của Tần Thủy Hoàng”.

Thế Di (t/h)

Danh Mục : Văn hóa
x