Người xưa coi quả hồ lô là biểu tượng của may mắn và trường thọ, một số quan niệm phong thủy còn cho rằng những ngọn núi có dạng giống quả hồ lô là nơi ẩn cư của các thuật sĩ và y sư cao minh.

Bầu hồ lô là một thứ quả có hình dạng kỳ lạ, tròn trịa đầy đặn, miệng nhỏ bụng lớn, người xưa thường dùng làm đồ đựng rượu, nước, hoặc các linh đơn dược liệu để phục vụ cho những chuyến đi xa.

Hồ lô thường là biểu tượng của may mắn và trường thọ. (Ảnh qua tin247.com)

Biểu tượng của các điềm lành

Không ai biết hồ lô bắt đầu được trồng từ bao giờ, nhưng cho đến nay, loại quả này không chỉ quen thuộc trong cái ăn thường ngày mà còn cả trong văn hóa dân gian. Hồ lô miệng nhỏ bụng lớn, tượng trưng tài lộc đầy kho, chiêu tài nạp phúc. Tuy nhiên, công dụng nổi bật nhất của hồ lô chính là tiêu tai trừ bệnh.

Sách phong thủy kinh điển “Tuyết tâm phú” có viết: “Hồ lô sơn hiện, thuật số y lưu”, tức chỉ nơi nào có ngọn núi hình quả hồ lô thì nơi ấy ắt có xuất hiện y sư hoặc thuật sĩ cao minh.

Từ xa xưa, những người làm nghề chữa bệnh, xem bói, bốc quẻ hoặc tướng số đều thích treo hồ lô trong nhà hoặc ở nơi làm việc của mình để mong sự nghiệp suôn sẻ, thuận lợi. Vì quả hồ lô thường dùng để đựng linh đơn diệu dược, nên được coi là biểu tượng của sức khỏe và an lành.

Quả hồ lô của ông Thọ có đựng thuốc trường sinh. (Ảnh qua tansinh)

Ông Lý Thiết Quải, một trong Tám vị Tiên bất tử của Đạo gia, thường hay mang theo hồ lô bên mình, dùng thuốc tiên trong quả hồ lô để chữa bệnh cho người nghèo khổ ốm đau. Ông Thọ là vị Thần coi quản thọ mệnh, cũng hay mang theo mình nấm linh chi, trái đào tiên và quả hồ lô đựng nước trường sinh. Chính vì thế, hồ lô còn là một biểu tượng của sự trường sinh. Đó là một món quà rất ý nghĩa để tặng người cao tuổi, tượng trưng cho lời cầu chúc sức khỏe và trường thọ.

Cả Phật giáo và Đạo giáo đều rất xem trọng hồ lô và coi nó là biểu tượng của điềm lành. Quả hồ lô được dùng làm bình đựng rượu tiên, hay lọ nhỏ đựng nước cam lộ của Quán Thế Âm Bồ Tát cũng thường có hình dạng giống hồ lô. Trong Đạo giáo, quả hồ lô là pháp bảo trừ tà và hóa giải tà khí, bắt giữ những linh hồn xấu.

Truyền thuyết “Huyền hồ tế thế”

Trong thành ngữ tiếng Hán hiện đại, người ta dùng cụm từ “huyền hồ tế thế” để khen ngợi tài năng và y đức của các y bác sĩ, những người ngày đêm vất vả lấy việc chữa bệnh cứu người làm vui. Thật ra thành ngữ ấy bắt nguồn từ một câu chuyện được lưu truyền trong Đạo gia, tuy là truyền thuyết nhưng lại được “Hậu Hán Thư” – một tác phẩm lịch sử của Trung Quốc, ghi chép lại.

Đời Đông Hán có một ông lão thường gọi là Hồ Công, hành nghề y. Lúc nào Hồ Công cũng mang theo bên mình một chiếc hồ lô, thuốc chữa bệnh được đựng trong ấy, hễ uống vào là bệnh gì cũng khỏi, hiệu nghiệm như thần. Vì vậy mà Hồ Công bán rất đắt, kiếm được rất nhiều tiền, nhưng ông chỉ giữ lại một ít làm chi phí đi lại, phần còn lại thì chia ra cho người nghèo.

Hồ Công đựng thuốc cứu người trong bình hồ lô, thuốc vào là bệnh khỏi. (Ảnh minh họa qua baomoi)

Mỗi ngày Hồ Công đều bán hết thuốc của mình, đến khi mặt trời lặn thì ông treo bình hồ lô lên mái hiên nhà người ta, rồi nhân lúc vắng người nhảy luôn vào trong bình. Một chàng trai tên là Phí Trường Phòng, lúc ấy đang ngồi trên lầu uống rượu, tình cờ nhìn xuống thấy cảnh đó liền biết Hồ Công không phải người thường, trong lòng vô cùng ngưỡng mộ.

Hôm sau, Phí Trường Phòng đến chỗ Hồ Công, giúp ông lão quét dọn chỗ ngồi, lại cung kính mời ông cơm rượu, thái độ hết sức lễ phép, chỉ mong được ông thu nhận làm đệ tử để học y đạo. Hồ Công giả vờ không để ý, Phí Trường Phòng vẫn trước sau nhất mực lễ độ, không dám có chút sơ sót.

Sau nhiều ngày như vậy, Hồ Công ngấm ngầm quan sát, nhận ra Phí Trường Phòng thật sự là người chân thành lương thiện, bèn đồng ý nhận anh làm đệ tử. Phí Trường Phòng mừng rỡ vô cùng, khấu đầu lạy tạ. Sau đó Hồ Công nói: “Bây giờ ta phải nhảy vào bình hồ lô này, con có dám cùng vào với ta không?”

Phí Trường Phòng không chút do dự, thấy thầy nhảy vào thì cũng nhảy theo. Vào bên trong bình rồi, anh vô cùng kinh ngạc, chỉ thấy trong ấy là cả một khung trời rộng lớn, gồm đủ cả cung vàng điện ngọc và vô số loài kỳ hoa dị thảo, thật là một xứ sở thần tiên.

Bấy giờ Hồ Công mới tiết lộ: “Ta vốn là thần tiên, vì phạm lỗi mà bị phạt xuống trần gian. Thấy con có căn cơ khá nên mới dẫn con vào đây, truyền cho y đạo, sau này dựa vào đó mà cứu người giúp đời.”

Phí Trường Phòng bái sư học đạo. (Ảnh minh họa qua Trithucvn)

Phí Trường Phòng mừng rỡ, ở lại với thầy một thời gian trong bình hồ lô, không chỉ học được y thuật cao minh mà còn học cả một số phép thuật, có thể trừ tà đuổi ma, nói chuyện với quỷ thần.

Sau khi đã thành tài, một hôm Hồ Công nói với Phí Trường Phòng: “Con có thể về nhà được rồi.”

Phí Trường Phòng không biết làm sao để trở về, Hồ Công liền đưa cho anh một ống tre, bảo cưỡi cái này thì có thể về đến nhà. Phí Trường Phòng từ biệt thầy, cưỡi ống tre bay về.

Khi về đến nhà, người thân của anh vô cùng sợ hãi, cứ ngỡ là ma quỷ. Hỏi ra mới biết anh đã mất tích hơn 10 năm, nên mọi người đều nghĩ là anh đã chết. Phí Trường Phòng nhẩm tính thời gian mình ở trong hồ lô chỉ có vài ngày, không ngờ mỗi thế giới khác nhau lại có một trường thời gian khác nhau, bèn kể lại mọi chuyện, cả nhà vui vẻ chúc mừng anh. Sau đó Phí Trường Phòng ném ống tre lên trời, nó liền hóa thành một con rồng xanh bay mất dạng.

Từ hôm ấy trở đi, Phí Trường Phòng bắt tay vào việc chữa bệnh cứu người. Y thuật của anh rất cao siêu, nhiều bệnh ngặt nghèo làm tất cả các danh y bó tay anh cũng có thể chữa khỏi, thậm chí một số người chết rồi anh cũng cứu sống lại được. Ngoài ra Phí Trường Phòng còn có thể trừ tà đuổi quỷ, dùng phép thuật hàng ma phục yêu, không lần nào không linh nghiệm.

Anh cũng học theo cách của Hồ Công, mỗi lần ra ngoài cứu người đều mang theo một cái bình có dạng hồ lô, dùng thuốc đựng trong ấy mà chữa bệnh, mưa gió không quan ngại, danh tiếng vang khắp bốn bể. Cũng vì vậy mà người ta có cụm từ “huyền hồ tế thế” để ca ngợi tài năng và y đức của Phí Trường Phòng, lưu truyền đến tận ngày nay.

Thế Di (t/h)

Danh Mục : Văn hóa