13-05-2011 09:53

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và lời Sấm

Nguyễn Bỉnh Khiêm (chữ Hán: 阮秉謙; 1491–1585) được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Lê-Mạc phân tranh cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam.


Tượng Nguyễn Bỉnh khiêm

Tiểu sử

Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương.
Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.
Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.
Thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.
Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.
Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết, do đó học trò gọi ông là “Tuyết giang Phu tử”. Bạn của ông là những tài danh lỗi lạc một thời như Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thương thư Trạng nguyên Nguyễn Thiến. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Dữ- tác giả Truyền kỳ mạn lục, Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh,Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện, Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính …
Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công.

Tiên tri

Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh từ đó ông tinh thông về lý học, tướng số… Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa. Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình quốc công.
Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau này. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”. Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là “Sấm Trạng Trình”.
Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (có tài liệu viết là “khả dĩ dung thân”) nghĩa là “Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài”. Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc “Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể” (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê – Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản” (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: “Lê tồn Trịnh tại”.

Lịch sử khoa cử Việt Nam có hàng chục trạng nguyên, nhưng ít có ông trạng nào mà tên tuổi lại được nhắc tới với nhiều giai thoại kỳ bí như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585). Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao tư tưởng nhân nghĩa, hòa bình. Chính ông là người đầu tiên nhắc tới hai chữ Việt Nam trong các tác phẩm của mình. Là một người thầy lớn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Học trò của ông, người theo nhà Mạc, người theo nhà Lê. Ngoài triều Mạc, cả họ Trịnh, họ Nguyễn, những người thuộc các phe đối lập, cũng đều tôn kính ông, thường xin ý kiến ông về nhiều vấn đề hệ trọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ cho tất cả. Họ đều thấy sự chỉ dẫn của ông là đúng, nên ông được xem như bậc đại hiền, một ông trạng tiên tri…

Những lời khuyên làm nên sự nghiệp

Năm 1568, khi Nguyễn Hoàng thấy anh ruột là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm (anh rể) giết, bèn sai người đến xin ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc này đã 77 tuổi, đang sống ẩn dật ở Am Bạch Vân. Không trả lời trực tiếp, ông dẫn sứ giả ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang bò và nói:

“Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân”
(Một dải Hoành Sơn có thể dung thân được)

Hiểu được ý ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái xin với anh rể Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào, từ đó lập ra nhà Nguyễn ở phương nam. Về sau sử nhà Nguyễn sửa thành “vạn đại dung thân”, hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp mãi mãi.

Ở Thăng Long, Trịnh Kiểm cũng muốn bỏ Vua Lê để tự xưng vương. Khi cho người đến hỏi ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông không trả lời mà dẫn sứ giả ra chùa, thắp hương mà nói: “Mấy năm nay mất mùa, nên tìm thóc giống cũ mà gieo”. Rồi lại bảo chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ và nói: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”. Hiểu ý, Trịnh Kiểm không dám phế bỏ nhà Lê mà phò Vua Lê để lập nghiệp Chúa.

Phùng Khắc Khoan đến gặp Nguyễn Bỉnh Khiêm, với ý muốn nhờ thầy cho một lời khuyên: Có nên bỏ nhà Mạc để vào Thanh Hóa với triều đình Lê – Trịnh? Cả buổi chiều trò chuyện, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ hỏi tình hình, nói chuyện văn chương chứ không trả lời. Đêm ấy Phùng Khắc Khoan ngủ lại tại nhà thầy. Sang canh tư, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến phòng ngủ của học trò, đứng ngoài gõ cửa và nói vọng vào:

“Gà đã gáy rồi, trời đã sáng, sao không dậy, ngủ mãi ử”

Phùng Khắc Khoan nghe xong, suy nghĩ, và đoán rằng thầy gián tiếp bảo thời cơ đã đến, có thể vào giúp nhà Lê. Ông vội vàng thu xếp hành lý, đợi đến lúc mặt trời mọc thì vào giã từ thầy. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không nói gì, chỉ cuốn một chiếc chiếu ngắn ném theo. Phùng Khắc Khoan nhặt lấy chiếu, vừa đi vừa nghĩ:

“Phải chăng đây là ý dặn mình cần hành động gấp và dứt điểm như cuốn chiếủ”

Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm gần mất, nhà Mạc cho người đến hỏi ông về kế lâu dài. Ông đáp: “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế” (Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời). Sau quả đúng như vậy.

Những lời sấm cho nhiều đời sau

Dân gian lưu truyền nhiều bản Sấm ký được cho là của ông. Hiện nay ở kho sách Viện nghiên cứu Hán – Nôm còn giữ được bốn bản. Tuy nhiên các bản này đều không có tên người chép, chép từ bao giờ và chép ở đâu? Do vậy, chúng ta cần phải làm rõ vấn đề đâu là khả năng dự báo xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm do kiến thức và kinh nghiệm đã đem lại, đâu là những điều mà người đời đã gán ghép cho ông? Mặc dù là “tồn nghi” nhưng chúng tôi cũng xin trích ra để bạn đọc cùng khảo cứu.

Truyện kể lại rằng, trước khi qua đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại một phong thư, đặt trong một ống quyển gắn kín, dặn con cháu sau này nếu làm ăn sa sút, mang thư ấy đến gặp quan sở tại thì sẽ được cứu giúp. Đến đời thứ bảy, người cháu thứ bảy là Thời Đương nghèo khốn quá, nhớ lời truyền lại, đem phong thư đến gặp quan sở tại. Quan lúc này đang nằm võng đọc sách, nghe gia nhân báo có thư của cụ Trạng Trình thì lấy làm lạ, lật đật chạy ra đón thư. Vừa ra khỏi nhà thì cái xà rơi xuống đúng chỗ võng đang nằm. Quan sợ hãi vội mở thư ra xem thì chỉ có mấy chữ:

“Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách
Nhĩ cứu ngã thất thế chi tôn
(Ta cứu ngươi thoát khỏi ách xà rơi
Ngươi nên cứu cháu bảy đời của ta)

Quan vừa kinh ngạc, vừa cảm phục, bèn giúp đỡ cháu bảy đời của Trạng hết sức tử tế.

Đến đời Vua Minh Mệnh (1820 – 1840) trong dân gian lưu truyền một câu sấm: “Gia Long nhị đại, Vĩnh Lại vi Vương” (đời thứ hai Gia Long, người ở Vĩnh Lại làm vua). Vua Minh Mệnh vốn tính đa nghi. Biết được mấy câu sấm ấy, nhà vua vừa có ý đề phòng, vừa căm giận Trạng Trình. Tổng đốc Hải Dương lúc bấy giờ là Nguyễn Công Trứ được lệnh đến phá đền thờ Trạng Trình.

Nguyễn Công Trứ cho lính đến, cứ y lệnh triều đình cho đập tường, dỡ nóc. Nhưng khi tháo cây thượng lương ra thì một cái hộp nhỏ đã để sẵn trong tấm gỗ, rơi xuống. Quân lính nhặt đưa trình chủ tướng, Nguyễn Công Trứ mở xem, trong đó có một mảnh giấy đề chữ:

“Minh Mệnh thập tứ
Thằng Trứ phá đền
Phá đền thì lại làm đền
Nào ai cướp nước tranh quyền gì ai”.

Nguyễn Công Trứ vội ra lệnh dừng ngay việc phá đền, khẩn cấp tâu về triều đình, xin làm lại đền thờ Trạng Trình.

Ở một tập sấm mở đầu có các câu:

“Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đạt mấy ai rõ ràng
Bãi ngọc đất nổi, âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn…”

Có người cho rằng những lời thơ ấy đã khẳng định đất nước có nhiều người tài giỏi, cùng với nhân dân giữ vững đất nước qua biết bao nguy biến. Đất nước cũng có nhiều tài nguyên phong phú cần được khai thác. Đảo Sơn phải chăng là Vũng Tàu – Côn Đảo? Nơi có tiềm năng về dầu khí và có vị trí kinh tế chiến lược? Những lời sấm ấy cũng khẳng định phải có khoa học – kỹ thuật (học cách vật) mới có thể khai thác tốt và sử dụng tốt những tài nguyên đó, những âu vàng trời cho.
Tập sấm còn đề cập tới một bậc Thánh giúp đời:

“Một đời có một tôi ngoan,
Giúp chung nhà nước dân an thái bình
Ấy điềm sinh Thánh rành rành chẳng nghi”

[...]

Trong tập sấm cũng ghi một lời rất đặc biệt:

“Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diên trường ức vạn xuân”
(Đất nước Hồng Lam này sau ta 500 năm
sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân)

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585, thọ 94 tuổi. Ba trăm năm sau, trong bộ sách lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”, nhà văn hóa Phan Huy Chú đã coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là “Một bậc kỳ tài, hiển danh muôn thuở”.

Trường Sơn

——————————————————————————–

Phía sau những con đường là một vầng trăng khuyết
Phía sau tiếng chuông chùa là khoảnh khắc bình yên
Phía sau mắt em buồn là cuộc đời xanh biếc
Phía sau nụ cười là những niềm đau

Vịt con xấu xí chờ đợi một tình yêu để hóa thân thành thiên nga

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là người đầu tiên sử dụng 2 tiếng Việt Nam từ thế kỷ 15
Dù giải thích thế nào, thì quốc hiệu Việt Nam cũng được Trạng Trình sử dụng đầu tiên, nhiều nhất và có ý thức nhất. Từ nguồn gốc này, lịch sử quốc hiệu đất nước không còn phụ thuộc vào hai triều đại phong kiến nữa.

Khả năng dự báo của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Dự báo, tiên tri dự đoán những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai, đó là vấn đề được người đời sau truyền tụng ở tài năng của nhà văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm. Những tập sấm ký của Trạng Trình được xuất bản trước . . . đã ghi lại những điều tiên đoán, nhưng nhiều khi không phải là đích thực của ông, mà là những việc thêm thắt về sau, dựa vào danh tiếng của ông mà hư tạo nên. Vậy, tài năng tiên đoán của Nguyễn Bỉnh Khiêm là như thế nào, hư thực đến đâu và sao ông lại có tài năng ấy, đó là những vấn đề đang được nghiên cứu, chưa có ai khẳng định được suy luận của mình là chính xác.
Chúng ta đều biết rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm am hiểu sâu sắc Kinh Dịch, tinh thông Thái Ất Thần Kinh của Dương Hùng đời Hán, chuyên sâu quan điểm duy vật (quan sát sự vật) và tác phẩm Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung thời Bắc Tống, qua sự truyền dạy của người thầy uyên bác là Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Tinh thần cốt lõi của các học thuyết nói trên là xây dựng những định lý của sự sinh thành và phát triển vũ trụ, Kinh Dịch dần dần ở các giai đoạn sau đi vào nhiều lĩnh vực : Lý học, Số học, tượng số học, thể hiện đầu tiên bằng những số hiệu trong Bát Quái Đồ của Phục Hy (năm 2850 tr. CN) từ Thái Cực (thể thống nhất đầu tiên) đến chia hai (lưỡng nghi) rồi chia bốn (tứ tượng) và tiếp tục mãi mãi, lập thành những hào quẻ vô cùng biến hoá để nói lên mọi hiện tượng, từ trời đất đến nhân sinh. Khởi phát là một ký hiệu học thô sơ, nhưng về sau nhiều kẻ đã lợi dụng, phủ lên một tính chất hoang đường, huyền hoặc. Chúng ta cần phân biệt giá trị khoa học của dịch lý và những luận điểm dị đoan để giữ lại tinh tuý của một nền học thuật hết sức sâu xa mà khoa học hiện đại đang tiếp tục khai thác.
Điều rõ ràng là Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi lý số và ông từng áp dụng kiến thức về mặt này để phát biểu ý kiến của mình đối với thời thế, mang tính dự báo khá chính xác … Những ý kiến tiên đoán đều đã được chứng minh trong lịch sử, cho thấy khả năng nhìn trước của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khả năng ấy xuất phát từ việc tinh thông lý học của ông, từ kinh nghiệm cuộc sống, sự nắm chắc tình hình và tương quan lực lượng của các thế lực cát cứ lúc bấy giờ. Sự thông tuệ của ông đã cho phép ông suy nghiệm và đoán trước những việc xảy ra trong nước, trên cơ sở thực tiển. Nếu nghĩ rằng đó chỉ là kết quả của việc bói toán mang tính thần bí thì chúng ta sẽ phạm sai lầm và đánh giá thấp nhà văn hoá lớn của chúng ta. Trước đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm có vế đối : “Lý học thâm uyên Trình tiên giác” cũng đã nói rõ sự tiên giác của Nguyễn Bỉnh Khiêm là do ông uyên thâm về lý học, cộng với cuộc đời gần một thế kỷ của ông.

Trong đoạn sấm Trạng Trình có câu:
Long Vĩ Xà đầu khởi chiến tranh,

Can qua xứ xứ khởi đao binh,

Mã dề Dương cước, anh hùng tận.

Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

Qua 4 câu trên thì 2 câu đầu đã thấy sự kiện xảy đúng với năm mà sấm ký mô tả: Long vĩ là đuôi rồng, tức cuối can là Nhâm Thìn (năm 2012) , Xà đầu là đầu năm Tỵ, tức là năm 2013 xảy ra đại thế chiến thứ III, và năm mùi thì các anh hùng chết hết. Lúc đó thiên hạ mới thái bình. Điều này trong kinh Phật cũng có nhắc tới.

Có người còn dịch là Long vĩ là đuôi rồng, tức cuối năm Canh Thìn (năm 2000) , Xà đầu là đầu năm Tỵ, tức là năm 2001 xảy ra cuộc đại khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001-và Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ tuyên bố tình trạng chiến tranh- Sau đó là cuộc liên minh quân sự của nhiều nước Hoa Kỳ, Tây Âu .. tấn công vào Afghanistan, sau đó Iraq và tận diệt quân khủng bố khắp thế giới.

Thơ của Sấm Trạng Trình
Chương Nhất
1 – Vận lành mừng gặp tiết lành
2 – Thấy trong quôc ngữ lập thành nên câu
3 – Một câu là một nhiệm màu
4 – Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
5 – Trải vì sao mây che Thái ất
6 – Thủa cung tay xe nhật phù lên
7 – Việt Nam khởi tổ xây nên
8 – Lạc Long ra trị đương quyền một phương
9 – Thịnh suy bỉ thới lẽ thường
10 – Một thời lại một nhiễu nhương nên lề
11 – Đến đinh Hoàng nối ngôi cửu ngũ
12 – Mở bản đồ rủ aó chấp tay
13 – Nhự đao phút chốc đổi thay
14 – Tập bát tử rày quyền đã nổi lên
15 – Đông a âm vị nhi thuyền
16 – Nam phương kỳ mộc bổng liền lại sinh
17 – Chấn cung hiện nhật quang minh
18 – Sóng lay khôn chống trường thành bền cho
19 – Đoài cung vẽ rạng trăng thu
20 – Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn
21 – Sáng cửu thiên ám vầng hồng nhật
22 – Dưới lẫn trên n( vẫn uống quen
23 – Sửa sang muôn việc cầm quyền
24 – Ngồi không ai dễ khẫng nhìn giúp cho
25 – Kià liệt vương khí hư đồ ủng
26 – Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn
27 – Trời sinh ra những kẻ gian
28 – Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham taì
29 – Áo vàng ấm áp đà hay
30 – Khi sui đấp núi khi say xây thành
31 – Lấy đạt điền làm công thiên hạ
32 – Được mấy năm đất lở giếng mòn
33 – Con yết ạch ạch tranh khôn
34 – Vô gìa mợ hội mộng tôn làm chùa
35 – Cơ trời xem đã mê đồ
36 – Đã đô lại muốn mở đô cho người
37 – ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn
38 – Suốt vạn dân cưu giận nhân than
39 – Dưới trên dốc chí lo toan
40 – Những đua bán nước bán quan làm giàu
41 – Thống rủ nhau làm mồi phú quí
42 – Mấy trung thần có chí an dân
43 – Đua nhau làm sự bất nhân
44 – Đả tuần bốn bể lại tuần đầu non
45 – Dư đồ chia xẻ càn khôn
46 – Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau
47 – Vội sang giàu giết người lấy của
48 – Sự có chăng mặc nọ ai đôi
49 – Việc làm thất chính tơi bời
50 – Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ
51 – Xem tượng trời đả gia ra trước
52 – Còn hung hăng bạc ngược qúa xưa
53 – Cuồn phong cả sớm liền trưa
54 – Đả đờn cửu khúc còn thơ thi đề
55 – ấy Tần Vương ngờ u mê chẳng biết
56 – Để vạn dân dê laị giết dê
57 – Luôn năm trật vật đi về
58 – Âm binh ở giửa nào hề biết đâu
59 – Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng
60 – Cũng một lòng trời chống khác nào
61 – Xem người dường vững chiêm bao
62 – Nào đâu còn muốn ước ao thái bình
63 – Một góc thành làm tâm chứng quỷ
64 – Đua một lòng ích kỷ hại nhân
65 – Bốn phương rơì rở hồng trần
66 – Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần
67 – Tiếc là những xuất dân làm bạo
68 – Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau
69 – Nhân danh trọn hết đâu đâu
70 – Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
71 – Hùm già lạc dấu khôn về
72 – Mèo non chi chí tìm về cố hương
73 – Chân dê móng khởi tiêu tường
74 – Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình
75 – Nội thành ong ỏng hư kinh
76 – Đầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
77 – Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
78 – Giữa hai xuân bỗng phá tổ long
79 – Quốc trung kinh dụng cáo không
80 – Giữa năm giả lại kiểm hung mùa màng
81 – Gà đâu sớm gáy bên tường
82 – Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
83 – Thủy binh cờ phất vầng hồng
84 – Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng
85 – Đứng hiên ngang đố ai biết trước
86 – ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
87 – Ai còn khoe trí khoe năng
88 – Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
89 – Chưa từng thấy đời nào sự lạ
90 – Bổng khiến người dá hoạ cho dân
91 – Muốn bình sao chẳng lấy nhân
92 – Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày
93 – Đả nên si Hoàn Linh đời Hán
94 – Đúc tiền ra bán tước cho dân
95 – Xung xoe những rắp cậy quân
96 – Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công
97 – Máy hoá công nắm tay dễ ngõ
98 – Lòng báo thù ai dễ đã ngờ uôi
99 – Thung thăng tưởng thấy đạo trời
100 – Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra
101 – Cát lầm bốn bể can qua
102 – Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về
103 – Quân hùng binh nhuệ đầy khe
104 – Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời
105 – Bấy gia+ý càng khốn thay ôi
106 – Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?
107 – Thương những kẻ ăn rau ăn giới
108 – Gặp nước bung con cái ẩn đâu
109 – Báo thù ấy chẳng sai đâu
110 – Tìm non có rẩy chừng sau mới toàn
111 – Xin những kẻ hai lòng sự chúa
112 – Thấy đâu hơn thì phụ thưả ân
113 – Cho nên phải báo trầm luân
114 – Ai khôn mới được bảo thân đời này
115 – Nói cho hay khảm cung rồng dấy
116 – Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
117 – Chữ rằng lục thất nguyệt gian
118 – Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
119 – Hể nhân kiến đã dời đất cũ
120 – Thì phụ nguyên mới chổ binh ra
121 – Bốn phương chẳng động can qua
122 – Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi
123 – Bấy gia+ý mở rộng qui khôi
124 – Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn
125 – Lại nói sứ Hoàng Giang sinh thánh
126 – Hoàng phúc xưa đã định tây phong
127 – Làu làu thế giới sáng trông
128 – Lồ lộ mặt rồng đầu có chử vương
129 – Rỏ sinh tài lạ khác thường
130 – Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài
131 – Xem ý trời có lòng đaĩ thánh
132 – Đốc sinh hiền điều đỉnh nội mai
133 – Chọn đầu thai những vì sao cả
134 – Dùng ở tay phụ tá vương gia
135 – Bắc phương chính khí sinh ra
136 – Có ông Bạch sĩ điều hoà hôm mai
137 – Song thiên nhật rạng sáng soi
138 – Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
139 – Đời này thánh kế vị vương
140 – Đủ no đạo đức văn chương trong mình
141 – Uy nghi trạng mạo khác hình
142 – Thác cư một gốc kim tinh phương đoài
143 – Cùng nhau khuya sớm dượng nuôi
144 – Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân
145 – Binh thơ mấy quyển kinh luân
146 – Thiên văn điạ lý nhân luân càng mầu
147 – Ở đâu anh hùng hẳn biết
148 – Xem sắc mây đã biết thành long
149 – Thánh nhân cư có thụy cung
150 – Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
151 – Lại dặn đấng tú nam chí cả
152 – Chớ vội vàng tất tả chạy rong
153 – Học cho biết lý kiết hung
154 – Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi
155 – Hể trời sinh xuống phải thì
156 – Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông
157 – Kià những kẻ vội lòng phú quí
158 – Xem trong mình một thí đều không
159 – Ví dù có gặp ngư ông
160 – Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng
161 – Xin khuyên đấng thời trung quân tử
162 – Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh
163 – Âm dương cơ ngẩu ngô sinh
164 – Thái nhâm thái ất trong mình cho hay
165 – Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng
166 – Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh
167 – Võ thông yên thủy thần kinh
168 – Được vào trận chiến mới càng biến cơ
169 – Chớ vật vờ quen loài ong kiến
170 – Biết ray tay miệng biếng nói không
171 – Ngỏ hay gặp hội mây rồng
172 – Công danh choi chói chép trong vân đaì
173 – Bấy giờ phỉ sức chí trai
174 – Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình
175 – Nặng lòng thật có vĩ kinh
176 – Cao tay mới gẩm biết tình năm nao
177 – Trên trời có mấy vì sao
178 – Đủ no biền tướng anh hào đôi nơi
179 – Nước Nam thường có thánh tài
180 – Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường
181 – So mấy lời để tàng kim quỉ
182 – Chờ hậu mai có chí sẽ cho
183 – Trước là biết nẽo tôn phò
184 – Sau là cao chí biết lo mặc lòng
185 – Xem đoài cung đến thời bất tạo
186 – Thấy vĩ tinh liệu rạo cho mau
187 – ngờ uôi lòng tham tước tham giàu
188 – Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
189 – Trẻ con mang mệnh tướng quân
190 – Ngở oai đã dấy ngở nhân đã nhường
191 – Ai lấy gương vua U thủa trước
192 – Loạn ru vì tham ngược bất nhân
193 – Đoài phương ong khởi lần lần
194 – Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn
195 – Man mác một đỉnh Hoành Sơn
196 – Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
197 – ấy là những binh thù Thái Thái
198 – Lòng trời xui ai nấy biết ru ?
199 – Phá điền đầu khỉ cuối thu
200 – Tái binh mới động thập thò liền sang
201 – Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
202 – Vẽ laị thêm hung kiệt mất mùa
203 – Lưu tinh hiện trước đôi thu
204 – Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
205 – Xem thấy những sương săm tuyết lạnh
206 – Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
207 – Thành câu cá, lưả tưng bừng
208 – Kẻ ngàn đông Hải người rừng Bắc Lâm
209 – Chiến trường chốn chốn cát lầm
210 – Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
211 – Sang thu chín huyết hồng tứ giả
212 – Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
213 – Đua nhau đồ thán quần lê
214 – Bấy giờ thiên hạ không bề tưạ nương
215 – Kẻ thì phải thủa hung hoang
216 – Kẻ thì binh hoả chiến trường chết oan
217 – Kẻ thì mắc thửa hung tàn
218 – Kẻ thì bận của bổng toan khốn mình
219 – Muông vương dựng ổ cắn tranh
220 – Điều thì làm chước xuất binh thủ thành
221 – Bời bời đua mạnh tranh giành
222 – Ra đâu đánh đấy đem binh sớm ngày
223 – Bể thanh cá phải ẩn cây
224 – Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
225 – Nào ai đã dễ nhìn U
226 – Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
227 – Cây bay lá lưả đôi ngàn
228 – Một làng còn mấy chim đàn bay ra
229 – Bốn phương cùng có can qua
230 – Làm sao cho biết nơi nào bảo thân
231 – Đoài phương thức có chân nhân
232 – Quần tiên khởi nghỉa chẳng phân hại người
233 – Tìm cho được chốn được nơi
234 – Thái nguyên một giãi lần chơi trú đình
235 – Bốn bề núi đá riểu quanh
236 – Một đường tiểu mạch nương mình dấy an
237 – Hể đông nam nhiều phen tàn tạc
238 – Tránh cho xa kẻo mắc đao binh
239 – Bắc kinh mới thật đế kinh
240 – Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào
241 – Chim hồng vổ cánh bay cao
242 – Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
243 – Ai dễ cứu con thơ sa giếng
244 – Đưa một lòng tranh tiếng dục nhau
245 – Vạn dân chịu thủa u sầu
246 – Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho
247 – Cấy cày thu đải thời mùa
248 – Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
249 – Nhân ra cận duyệt viễn lai
250 – Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm
251 – Xem tượng trời biết đường đời trị
252 – Gẩm về sau họ Lý xưa nên
253 – Giòng nhà để lấy dấu truyền
254 – Gẩm xem bốn báu còn in đời đời
255 – Thần qui cơ nổ ở trời
256 – để làm thần khí thủa nơi trị trường
257 – Lại nói sứ Hoàng Giang sinh thánh
258 – Sông Bảo Giang thiên định ai hay
259 – Lục thất cho biết ngày dày
260 – Phụ nguyên ấy thực ở dầy tào khê
261 – Có thầy nhân thập đi về
262 – Tả phụ hửu trì cây cỏ làm binh
263 – Giốc hết sức sưả sang vương nghiệp
264 – Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
265 – Ra tay điều chỉnh hộ may
266 – Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân
267 – Lọ là phải nhọc kéo quân
268 – Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về
269 – Năm giáp tý vẽ khuê đã rạng
270 – Lộ ngủ tinh trinh tượng thái hanh
271 – Ân trên vũ khí vân hành
272 – Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài
273 – Bản đồ chảng sót cho ai
274 – Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn
275 – Vấng nền vương cha truyền con nối
276 – Doỉ muôn đời một mối xa thư
277 – Bể kình tâm lặng bằng tờ
278 – Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân
279 – Au vàng khỏe đặt vững chân
280 – Càng bền thế nước vạn xuân lâu daì
Chương Nhì
281 – Vưà năm nhâm tý xuân đầu
282 – Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
283 – Quyển vàng mở thấy sấm trời
284 – Từ đinh đổi đời chí lửục thất gian
285 – Một thời có một tôi ngoan
286 – Giúp trong việc nước gặp an thái bình
…………………………..
…………………………..
287 – Luận chung một tập kim thời
288 – Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi
289 – Trượng phu có chí thời coi
290 – Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng
291 – Tài nầy nên đấng vẽ vang
292 – Biết chừng đời trị biết đường đời suy
293 – Kể từ nhân đoản mà đi
294 – Số chưa gặp thì biết hoà chép ra
295 – Tiếc thay hiền sĩ bao già
296 – Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
297 – Thử cho tay giúp ra dùng
298 – Tài này so cùng tài trước xem sao
299 – Trên trời kể chín tầng cao
300 – Tay nghe bằng một ti hào biết hay
301 – Hiềm vì sinh phải thời này
302 – Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời
303 – Hợp đà thay thánh nghìn tài
304 – Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời
305 – Nói ra thì lậu sự đời
306 – Trái tai phải lụy tài trai khôn luần
307 – Nói ra ám chúa bội quân
308 – Đương thời đời trị xoay vần được đâu
309 – Chờ cho nhân đoản hết sau
310 – Đến chừng đời ấy thấy âu nhiều nàn
311 – Trời xui những kẻ ắt gian
312 – Kiếp độc đạo thiết làm loàn có hay
313 – Vua nào tôi ấy đã bày
314 – Trên đầu bất chính duới nay dấy loàn
315 – Đua nhau bội bạn nghịch vi
316 – ích gia phi kỷ dân thì khốn thay
317 – Tiếc tài gẩm được thời hay
318 – Đã sao như vậy ra tay sẽ dùng
319 – Tài trai có chí anh hùng
320 – Muốn làm tướng suý lập công xưng đời
321 – Khá xem nhiệm nhặt tộ trời
322 – Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng
323 – Đi tìm cho đến đế cung
324 – Rấp phù xuất lực đế cung được toàn
325 – Bảo nhau cương kỷ cho tường
326 – Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài
327 – Chờ cho động đất chuyển trời
328 – Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng
329 – Còn bên thì náu chưa xong
330 – Nhân lực cướp lấy thiên công những là
331 – Đời ấy những quỉ cùng ma
332 – Chẳng còn ở thật người ta đâu là
333 – Trời cao đất rộng bao xa
334 – Làm sao cho biết cửa nhà đế vương
335 – Dù trai ai chửa biết tường
336 – Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này
337 – Ý ra lục thất gian nay
338 – Thời vận đã định thời nầy hưng vương
339 – Trí xem nhiệm nhặt cho tường
340 – Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy
341 – Vua ngự thạch bàn xa thay
342 – Đại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng
343 – Gà kêu vượn hót vang lừng
344 – Đường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò
345 – Nhân dân vắng mạt bằng tờ
346 – Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay
347 – Vua còn cuốc nguyệt cày mây
348 – Phong điều vũ thuận thú rày an dân
349 – Phong đăng hoà cóc chứa chang
350 – Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây
351 – Chính cung phương khảm vần mây
352 – Thức thay thiên tử là nay trị đời
353 – Anh hùng trí lượng thời coi
354 – Công danh chấng ngại tìm đòi ra đi
355 – Tìm lên đến thạch bàn khê
356 – Có đất sinh thánh bên kia cuối làng
357 – Nhìn đi nhìn lại cho tường
358 – Chửa có sinh vương đâu là
359 – Chẳng tìm thì đến bình gia
360 – Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình
361 – Nhìn xem phong cảnh cũng xinh
362 – Tả long triều lại có thành đợt vây
363 – Hửu hổ uấn khúc giang này
364 – Minh đường thất diệu trước bày mặt tai
365 – Ở xa thấy một con voi
366 – Cúi đầu quen bụi trông hồ sâu
367 – ấy điềm thiên tử về chầu
368 – Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời
369 – Song thiên nhật nguyệt sáng soi
370 – Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu
371 – Đến đời thịnh vượng còn lâu
372 – Đành đến tam hợp chia nhau sẽ làm
373 – Khuyên cho đông bắc nam tây
374 – Muốn làm tướng suý thì xem trông này
375 – Thiên sinh thiên tử ư hoả thôn
376 – Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
377 – Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
378 – Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn
379 – Kià cơn gió thổi lá rung cây
380 – Rung bắc sang nam đông tới tây
381 – Tan tác kiến kiều an đất nước
382 – Xác xơ cổ thụ sạch am mây
383 – Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
384 – Hưng điạ tràng giang hoá nước đầy
385 – Một gió một yên ai sùng baí
386 – Cha con người Vĩnh Bảo cho hay
387 – Con mùng búng tít con quay
388 – Vù vù chong chóng gió bay trên đài
389 – Nhà cha cửa đóng then cài
390 – …mầm sấm động hỏi người đông lân
391 – Tiếc tám lạng thương nửa cân
392 – Biết rằng ai có du phần như ai
393 – Bắt tay nằm nghĩ dông dài
394 – Thương người có một lo hai phận mình
395 – Canh niên tân phá
396 – Tuất hợi phục sinh
397 – Nhị ngủ dư bình
398 – Long hổ xà đầu khởi chiến tranh
399 – Can qua tứ xứ loạn đao binh
400 – Mã đề dương cước anh hùng tận
401 – Thân dậu niên lai kiến thái bình
402 – Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
403 – Có một đàn xà đánh lộn nhau
404 – Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng
405 – Lợn kia làm quái phải sai đầu
406 – Chuột nọ lăm le mong cản tổ
407 – Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu
408 – Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
409 – Tìm về quê củ bắt ngứa tàu
* * *
410 – Cửu cửu kiền khôn dĩ định
411 – Thanh minh thời tiết hoa tàn
412 – Trức đáo dương đầu mã vĩ
413 – Hồ binh bát vạn nhập trường an
* * *
414 – Baỏ Giang thiên tủ xuất
415 – Bất chiến tứ nhiên thành
416 – Lê dân bảo bảo noản
417 – Tứ haỉ lạc âu ca
* * * 418 – Dục đức thánh nhân hương
419 – Qúa kiều cư bắc phương
420 – Danh vi Nguyễn gia tử
421 – Kim tịch sinh ngưu lang
422 – Thượng đại nhân bất nhân
423 – Thánh ất dĩ vong ân
424 – Bạch hổ kim đaí ấn
425 – Thất thập cổ lai xuân
* * *
426 – Bắc hữu kim thành tráng
427 – Nam tạc ngọc bích thành
428 – Hỏa thôn đa khuyển phệ
429 – Mục giả dục nhân canh
* * *
430 – Phú quí hồng trần mộng
431 – Bần cùng bạch phát sinh
432 – Anh hùng vương kiếm kích
433 – Manh cổ đổ thái bình
434 – Nam Việt hữu Ngưu tinh
435 – Quá thất thân thủy sinh
436 – Điạ giới sĩ vị bạch
437 – Thủy trầm nhi bắc kinh
438 – Kỷ mã xu dương tẩu
439 – Phù kê thăng đại minh
440 – Trư thử giai phong khởi
441 – Thìn mão xuất thái bình
442 – Phân phân tùng Bắc khởi
443 – Nhiểu nhiểu xuất đông chinh
444 – Bảo sơn thiên tử xuất
445 – Bất chiến tự nhiên thành
446 – Thủy trung tàng bảo cái
447 – Hứa cập thánh nhân hương
448 – Mộc hạ châm châm khẩu
449 – Danh thế xuất nan lương
450 – Danh vi nguyễn gia tử
451 – Tinh bản tại ngưu lang
452 – Mại dử lê viện dưỡng
453 – Khởi nguyệt bộ đại giang
454 – Hoặc kiều tam lộng ngạn
455 – Hoặc ngụ kim lăng cương
456 – Thiên dử thần thức thụy
457 – Thụy trình ngũ sắc quang
458 – Kim kê khai lựu điệp
459 – Hoàng cái xuất quí phương
460 – Nhân nghĩa thùy vi địch
461 – Đạo đức thực dữ đương
462 – Tộ truyền nhị thập ngũ
463 – Vận khải ngũ viên trường
464 – Vận đáo dương hầu ách
465 – Chấn đoài cương bất trường
466 – Quần gian đạo đanh tự
467 – Bách tính khổ tai ương
468 – Can qua tranh đấu khởi
469 – Phạm địch tánh hung hoang
470 – Ma vương sát đại quỉ
471 – Hoàng thiên tru ma vương
472 – Kiền khôn phú taỉ vô lương
473 – Đào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng
474 – Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
475 – Đảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân
476 – Ta hồ vô phụ vô quân
477 – Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành
478 – Đoài phương phước điạ giáng linh
479 – Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân
480 – Phá điền thiên tử giáng trần
481 – Dũng sỉ nhược hải mưu thần như lâm
482 – Trần công naỉ thị phúc tâm
483 – Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du
484 – Tướng thần hệ xuất y chu
485 – Thứ ky phục kiến đường ngờ u thi hành
486 – Hiệu xưng thiên hạ thaí bình
487 – Đông tây vô sứ nam thành quốc gia

Theo Người đưa tin
Có 2 lời bình
    • Một bài viết hay và bổ ích. Thanks! :razz:

    • Kham phuc tai nang tien doan ,nguyen binh khiem la nha tien tri vi dai nhat moi thoi dai

Bình luận
Lời bình của bạn
icon_wink.gif icon_neutral.gif icon_mad.gif icon_twisted.gif icon_smile.gif icon_eek.gif icon_sad.gif icon_rolleyes.gif icon_razz.gif icon_redface.gif icon_surprised.gif icon_mrgreen.gif icon_lol.gif icon_idea.gif icon_biggrin.gif icon_evil.gif icon_cry.gif icon_cool.gif icon_arrow.gif icon_confused.gif icon_question.gif icon_exclaim.gif